Phụ Tử

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ: Bản Kinh

Tên khoa học: Aconitum fortunei Hemsl.

Họ khoa học: Họ Hoàng Liên (Ranunculaceae).

TÊN KHÁC

Hắc phụ, Cách tử (Bản Thảo Cương Mục).

MÔ TẢ

Cỏ cao 0,6–1m, thân mọc thẳng đứng, có lông ngắn. Lá chia 3 thùy, đường kính 5–7mm, hình trứng ngược có răng cưa ở nửa trên. Hoa lớn màu xanh tím, mọc thành chùm dày, dài 6–15cm. Lá bắc nhỏ. Bao hoa gồm 5 bộ phận trong đó có 1 cái hình mũ, 2–5 tuyến mật. Quả có 5 đại mỏng như giấy, dài 23mm, hạt có vảy ở trên mặt.

DƯỢC LÝ

  • Nước sắc Phụ tử liều nhỏ làm tăng huyết áp ở động vật được gây mê với liều lượng lớn, lúc đầu làm hạ sau lại làm tăng, tăng lực co bóp cơ tim, tác dụng cường tim rõ, tăng lưu lượng máu của động mạch đùi và làm giảm lực cản của động mạch, làm tăng nhẹ lưu lượng máu của động mạch vành và lực cản. Thành phần cường tim của Phụ tử là phần hòa tan nước. Độc tính của phần hòa tan cồn rất cao so với phần hòa tan nước (Trung Dược Học).
  • Tác dụng kháng viêm: Thuốc sắc Phụ tử cho súc vật gây viêm khớp uống hoặc chích màng bụng đều có tác dụng kháng viêm (Trung Dược Học).
  • Tác dụng nội tiết: Thuốc có tác dụng làm giảm lượng Vitamin C ở vỏ tuyến thượng thận chuột đồng. Một số thí nghiệm trên súc vật chứng tỏ nước thuốc làm tăng tiết vỏ tuyến thượng thận và tăng chuyển hóa đường, mỡ và Protein, nhưng trên 1 số thí nghiệm khác thì tác dụng này chưa rõ (Chinese Herbal Medicin).
  • Thuốc có tác dụng làm tăng miễn dịch cơ thể (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược). Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương: Aconite với liều 0,1 – 0,2mg/kg có tác dụng làm giảm phản xạ có điều kiện và không điều kiện, làm giảm nồng độ Ammoniac ở não (Trung Dược Học).

TÍNH VỊ QUY KINH

TÍNH VỊ:

  • Vị cay, tính ôn (Bản Kinh).
  • Vị ngọt, rất nhiệt, rất độc (Bản Thảo Cương Mục).
  • Khí nhiệt, vị rất cay (Y Học Khải Nguyên).
  • Rất cay, rất nóng, hơi kèm ngọt, đắng mà rất độc (Bản Thảo Kinh Sơ).
  • Vị cay, ngọt, tính rất nóng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

QUY KINH:

  • Vào kinh thủ Thiếu dương Tam tiêu (Thang Dịch Bản Thảo).
  • Vào kinh túc Quyết âm Can, túc Thiếu âm Thận, thủ Thái âm Phế (Bản Thảo Kinh Giải).
  • Vào kinh Tâm, Thận, Tỳ (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

    ĐỊA LÝ:

Mọc hoang ở Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, vùng Tây Bắc

THU HÁI:

  • Vào tháng 8, trước khi hoa nở (Dược Liệu Việt Nam).
  • Khoảng Hạ chí (18 đến 28 tháng năm Âm lịch)

BỘ PHẬN DÙNG:

Rễ củ. Củ cái gọi là Ô đầu, củ con đã chế gọi là Phụ tử.

MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:

  • Diêm Phụ Tử: Hình dùi tròn, dài khoảng 6,6cm, đường kính 3,3cm. Đầu củ rộng, chính giữa có vết mầm trở xuống, thân trên béo, đầy, chung quanh có phân chi nổi lên như cái bướu, thường được gọi là Đinh giác. Bên ngoài mầu đen tro, bao trùm bột muối. Thể nặng, chỗ cắt ngang mầu nâu tro, có những đường gân lệch hoặc giữa ruột có khe hổng nhỏ, trong đó có muối. Không mùi, vị mặn mà tê, cay. Loại củ lớn, cứng, bên ngoài nổi bậc muối là tốt (Dược Tài Học).
  • Hắc Phụ Phiến: Những miếng cắt dọc không giống nhau, trên rộng, dưới hẹp, dài 2–4cm, rộng 1,6–2,6cm, dầy 0,5cm. Ngoài vỏ mầu nâu đen, trong ruột mầu vàng mờ, nửa trong suốt, dầu nhuận sáng bóng, thấy được đường gân chạy dọc. Chất cứng dòn, chỗ vỡ nát giống như chất sừng. Không mùi, vị nhạt. Lựa thứ đều, bên ngoài có dầu nhuận sáng là tốt (Dược Tài Học).
  • Bạch Phụ Phiến: giống Hắc Phụ Phiến nhưng toàn bộ đều mầu trắng vàng, nửa trong suốt, miếng mỏng hơn, dài 0,3cm. Không mùi, vị nhạt. Lựa thứ phiến đều, mầu trắng vàng, dầu nhuận, nửa trong suốt là tốt (Dược Tài Học).

BÀO CHẾ

  • Diêm Phụ Tử: Chọn lấy thứ rễ Phụ tử hơi to, rửa sạch, ngâm trong nước pha muối, hàng này lấy ra phơi dần cho đến khi thấy bên ngoài Phụ tử có nhiều tinh thể muối và hóa cứng là được. Sau đó giần qua để bỏ bột muối đi là dùng được.
  • Hắc Phụ Phiến: chọn thứ Phụ tử cỡ vừa, ngâm trong nước muối mặn vài ngày, lấy nước đó nấu sôi, vớt ra, rửa sạch, cắt thành phiến dầy. Lại ngâm vào nước muối nhạt và thêm thuốc nhuộm mầu vào làm cho Phụ tử có mầu trà đặc. Lấy nước rửa cho đến khi nếm vào lưỡi không thấy tê cay nữa, lấy ra, đồ chín, sấy cho khô nửa chừng, lại phơi khô là được (Dược Tài Học).
  • Bạch Phụ Phiến: chọn loại Phụ tử nhỏ hơn, ngâm trong nước muối mặn vài ngày, lấy nước đó nấu cho đèn khi thấu tạn ruột, vớt ra, bóc vỏ ngoài, cắt dọc thành phiến mỏng, rửa cho đến khi nếm lưỡi không thấy tê cay nữa là được. Lấy ra, đồ chín, phơi khô nửa chừng, xông Lưu huỳnh cho khô là được (Dược Tài Học).
  • Đạm Phụ Phiến: Lấy Diêm Phụ Phiến ngâm nước, mỗi ngày thay 2 – 3 lần cho hết muối. Cho vào nồi cùng Cam thảo, Đậu đen nấu với nước cho thấm, đến khi cắt ra, nếm mà lưỡi không thấy cay, tê thì thôi. Lấy ra, bỏ hết Cam thảo, Đậu đen, cạo bỏ vỏ, chẻ làm 2 miếng, cho vào nồi, thêm nước, nấu độ 2 giờ, khi Phụ tử chín thì lấy ra, để cho ráo, lại ủ cho mềm rồi cắt miếng, phơi khô là được. Hoặc cứ 50kg Diêm Phụ Tử rửa sạch, ngâm nước 1 đêm, bỏ vỏ và cuống, cắt miếng, lại ngâm nước cho đến khi nếm không thấy cay, tê thì thôi. Lấy ra, dùng nước Gừng tẩm 1 – 3 ngày, vớt ra, đồ chín, lại sấy khô đến 7/10, cho vào nồi rang với lửa to cho bay hơi và nứt ra. Lấy ra, để nguội là được. Hoặc trải lên tấm lưới sắt đặt trên lò than hồng, lật qua lại nướng cho phồng nứt ra, để nguội là được (Dược Tài Học).

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị nôn, tiêu chảy, ra mồ hôi, tay chân co rút, tay chân lạnh: Chích thảo 80g, Can khương 60g, Phụ tử 1 củ (dùng sống, bỏ vỏ, cắt làm 8 miếng). Sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng 2 hợp, bỏ bã, chia ra uống ấm (Tứ Nghịch Thang – Thương Hàn Luận).
  • Trị âm độc thương hàn, mặt xanh, tay chân lạnh, bụng đau, cơ thể lạnh, các chứng lãnh khí: Phụ tử 3 trái (bào chế, bỏ vỏ, cuống). Tán bột. Mỗi lần uống 9g với 1/2 chén nước cốt Gừng, 1/2 chén rượu lạnh (Hồi Dương Tán – Tế Sinh Phương).
  • Trị lậu phong, ra mồ hôi không ngừng: Phụ tử 45g (chế, bỏ vỏ,, cuống), Thục tiêu (bỏ mắt, sao cho ra hơi nước) 15g, Hạnh nhân (bỏ vỏ, đầu nhọn, sao cho ra hơi nước) 15g, Bạch truật 60g, băm nát như hột đậu, sắc với 5 thăng nước còn 2 thăng, bỏ bã, chia làm 4 lần uống ấm (Phụ tử Thang – Thánh Tế Tổng Lục).
  • Trị quan cách, mạch Trầm, tay chân lạnh: Thục phụ tử (tẩm Đồng tiện), Nhân sâm đều 4g, Xạ hương 1 ít. Tán nhuyễn, trộn hồ làm viên, to bằng hạt Ngô đồng, lấy Xạ hương bọc ngoài. Mỗi lần uống 7 viên với nước sắc Đăng tâm (Ký Tế Hoàn – Y Môn Pháp Luật).
  • Trị ngực đau, giữa ngực có hàn khí uất kết không tan, ngực có hòn khối: Phụ tử (bào, bỏ vỏ, cuống), Nga truật (nướng) đều 30g, Hồ tiêu, Chỉ thực (sao trấu) đều 15g, tán bột. Mỗi lần uống 9g với rượu nóng (Tứ Ôn Thang – Phổ Tế phương).
  • Trị răng đau do âm hư: Phụ tử (sống), nghiền nát, trộn với nước miếng, đắp vào giữa lòng bàn chân, rất công hiệu (Hoa Đà Thần Y Bí Truyền).
  • Trị hàn tà nhập lý, chân tay lạnh, run, bụng đa, thổ tả, không khát, thân nhiệt và huyết áp tụt, mạch Vi muốn tuyệt: Thục phụ tử 12g, Nhục quế 4g, Can khương 6g, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Trần bì đều 12g, Cam
    thảo 4g, Ngũ vị tử 6g, Bán hạ, Sinh khương đều 12g, sắc, thêm Xạ hương 0,1g,uống (Hồi Dương Cấp Cứu  Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị thận viêm mạn, dương khí không đủ, lưng mỏi, chân lạnh, phù thũng: Thục phụ tử 12g, Nhục quế 4g, Thục địa, Sơn dược đều 16g, Sơn thù, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả đều 12g. Tán bột, trộn mật làm viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g (Bát Vị Địa Hoàng Hoàn).
  • Trị hàn thấp thấm vào bên trong, khớp xương đau, cơ thể đau, lưng lạnh, chân tay mát, không khát: Thục phụ tử, Phục linh, Đảng sâm, Bạch truật, Thược dược đều 12g. Sắc uống (Phụ tử Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

CHỦ TRỊ

TÁC DỤNG:

  • Tính tẩu mà bất thủ, thông hành các kinh (Y Học Khải Nguyên).
  • Thông hành 12 kinh (Dược Tính Thiết Dụng).
  • Ôn Thận, hồi dương, hành thủy, chỉ thống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

CHỦ TRỊ:

  • Trị các chứng vong dương, dương hư, hàn tý, âm thư (Trung Dược Học).
  • Trị vong dương, dương hư, thủy thũng, phong thấp đau nhức khớp xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).

KIÊNG KỴ:

  • Sợ Ngô công, ghét Phòng phong, Hắc đậu, Cam thảo, Hoàng kỳ, Nhân sâm (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
  • Tương phản với Phòng phong (Trân Châu Nang).
  • Uống Phụ tử để bổ hỏa tất làm cho thủy bị cạn (Thang Dịch Bản Thảo).
  • Úy Lục đậu, Ô cửu, Tê giác, Đồng sấu. Kỵ Xị chấp (Bản Thảo Cương Mục).
  • Người không phải là Thận dương bất túc mà hư hàn nặng: cấm dùng. Tất cả các chứng dương, chứng hỏa, chứng nhiệt, âm hư nội nhiệt, huyết dịch suy đều không nên dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Âm hư dương thịnh, có thai: không dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

LIỀU DÙNG:

3 – 15g.

NGỘ ĐỘC:

Khi bị ngộ độc Phụ tử, Ô đầu có dấu hiệu: chảy nước miếng, muốn nôn, nôn, miệng khô, tiêu chảy, hoa mắt, chóng mặt, chân tay và cơ thể có cảm giác tê, tim hồi hộp, thân nhiệt giảm, huyết áp tụt, mạch chậm, khó thở, chân tay co giật, bất tỉnh, tiêu tiểu không tự chủ: Kim ngân hoa 80g, Đậu xanh 80g, Cam thảo 20g, Sinh khương 20g, sắc, pha thêm đường uống để giải (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

THAM KHẢO

  • Phụ tử là loại thuốc hàng đầu gây trụy thai (Biệt Lục).
  • Phụ tử, vì vào được nhiều kinh, vì vậy nó có tác dụng giống như rượu, có thể trừ hàn nặng ở phần biểu và lý, trị chứng quyết nghịch, cấm khẩu... Phụ tử dùng liều cao có tác dụng dẫn hỏa quy nguyên, nếu mạch Tế, vô thần, khí hư, vô nhiệt cần dùng Phụ tử để cấp cứu (Cảnh Nhạc Toàn Thư).
  • Phụ tử vị cay, tính đại nhiệt, là chủ dược để bổ nguyên dương, lực của nó có thể thăng giáng, vào trong, ra ngoài, vì vậy, hễ gặp chứng hàn ngưng kết ở tạng phủ hoặc gân cốt, chứng tý ở kinh lạc hoặc huyết mạch, dùng Phụ tử có thể khai thông được hết (Y Học Trung Trung Tham Tây Lục).
  • Alkaloid của Ô đầu nếu sắc lâu thì độc tính chỉ bằng 1/2000 – 1/4000 của Ô đầu sống (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).
  • Phụ tử mạnh về trừ hàn, Ô đầu mạnh về trừ phong. Vì vậy, nếu muốn ôn thận, tráng dương thường dùng Phụ tử; Nếu muốn trị đau nhức các khớp, trừ phong hàn, thấp thường dùng Ô đầu. Hai vị thuốc đều rất độc, vì vậy, phải bào chế mới dùng và phải sắc lâu (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).
  • Củ cái của nó gọi là Ô đầu, các củ bám vào chung quanh gọi là Phụ tử. Củ nào nhìn giống như đầu con quạ thì gọi là Ô đầu, cũng có nơi gọi là Xuyên ô. Củ nào có 2 ngạnh giống như mỏ chim gọi là Ô trác; Củ nào nhỏ mà dài, có nhánh, gọi là Thiên hùng; Củ nào mọc bám vào củ to gọi là Phụ tử, nhỏ thì gọi là Trắc tử, sau này gọi
    chung là Phụ tử. Tuy tên gọi khác nhau nhưng 5 thứ trên cũng do 1 gốc sinh ra, thì công dụng cũng gần giống nhau. Chỉ có điều khác là: Muốn bổ hư, thường dùng Phụ tử; Trị những chứng bệnh phong thì dùng Ô đầu, Thiên hùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Phụ tử phản Bán hạ, Qua lâu, Bối mẫu, Bạch liễm, Bạch cập. Năm vị này không được dùng chung với nhau (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

  • Cần nhất 1 điều cần phải nhớ là chất độc nhất của Phụ tử là ở muối ngâm nó. Muối này rất độc, lỡ ăn phải có thể gây tử vong không thể giải cứu kịp (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Liều dùng Phụ tử nhiều ít tùy thuộc vào các yếu tố:
    • Cơ địa mỗi người đáp ứng đối với thuốc khác nhau: theo y văn, có người dùng Phụ tử trên 100g không sao, có người dùng liều nhỏ đã có triệu chứng ngộ độc. Tốt nhất lúc bắt đầu nên dùng liều nhỏ trước.
    • Tùy địa phương, tập quán: Theo báo cáo của Trung Quốc, người dân Tứ Xuyên thường dùng Phụ tử nấu với thịt để ăn hàng ngày thì đối với dân xứ này có thể dùng liều cao (Trung Dược Học).
  • Vị Phụ tử chia làm 2 loại: đen và trắng. Phụ tử mà người ta thường nói là Hắc Phụ tử, vị cay, tính nhiệt, có tác dụng khu hàn thấp ở hạ tiêu, thiên về đi xuống, vào thận. Một vị khác là Bạch Phụ tử, vị cay, ngọt mà ôn, tính táo, đi lên, là thuốc thuộc dương tính trong chứng phong, thiên về dẫn sức thuốc đi lên mặt, chủ yếu trị chứng phong đờm, táo thấp đờm (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Sinh phụ tử tính vị rất mạnh, thiên về hồi dương. Thục phụ tử tính tương đối thuần, lành, thiên về tráng dương. Ô đầu chủ yếu dùng để trừ phong thấp, khai thông đờm bám lâu ngày. Trồng lâu năm dưới đất mà Ô đầu không mọc củ con thì gọi là Thiên hùng, chủ trị giống như Phụ tử nhưng sức mạnh hơn.
  • Bạch phụ tử là 1 loại khác, trông giống như Phụ tử nhưng mầu trắng, chủ yếu dùng trừ đờm thuộc phong hàn, trị trúng phong mất tiếng, thiên về thượng tiêu, không giống như Ô đầu, Phụ tử có thể đạt đến hạ tiêu (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Phụ tử có chất kiềm, độc tính rất mạnh, khi cho vào thuốc, phải đun to lửa, sắc lâu đến hơn 4 giờ, đồng thời nên phối hợp với Can khương, Cam thảo, Mật ong để giải độc (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và tất cả các mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

26 Tháng 1 2026
26 Tháng 1 2026
26 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là bước phát triển mới của y học cổ truyền dựa vào phân tích số đo kinh lạc với Mạch lý, Mô hình lục khí và Ngũ tà. Kinh lạc chẩn là công cụ duy nhất xác định được chính xác Bát cương và đầy đủ mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của Phòng chẩn trị Y học cổ truyền Chính Trung Đường, việc trích dẫn nội dung website này phải được sự đồng ý của Chính Trung Đường bằng văn bản.
URL: http://www.kinhlacchan.com, Email: chinhnhatkim@gmail.com, Tel: 0913520785

Search