Xuất xứ: Bản Kinh
Tên khoa học: Fossilia ossis Mastodi (Os Draconis coloratus, Os Draconis nativus).
TÊN KHÁC
Ngũ hoa long cốt, Bạch long cốt, Phấn long cốt, Thổ long cốt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Sinh long cốt (Long cốt sống), Đoạn long cốt (Long cốt nung qua lửa) (Đông Dược Học Thiết Yếu).
MÔ TẢ
- Long cốt là một vị thuốc do kết quả hóa thạch của xương một số động vật thời kỳ đệ tam kỷ như Voi, Tê giác, Ngựa... trong đó có xương Voi là chủ yếu.
- Vị thuốc Long cốt là những hòn hình dạng khác nhau, có khi gặp những hòn hình ống, kích thước không cố định dài từ 6–10cm, rộng 6–10cm, dày 2–3cm, màu trắng tro nhạt, có nhiều vân màu thay đổi: đỏ, trắng, lam, vàng, đen hoặc nâu. Mặt ngoài hơi bóng nhẵn, dễ vỡ. Không có mùi vị gì. Loài Thổ long cốt (còn gọi là Phấn long cốt) thì to hơn, mặt ngoài màu trắng hoặc màu vàng trắng, nhẵn bóng có khi có vân dọc hoặc những điểm màu nâu, chỗ đốt thì phình ra, cứng, bề mặt không bằng, lỗ chỗ như tổ ong.
DƯỢC LÝ
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị ngọt, tính bình (Bản Kinh).
- Hơi lạnh, không độc (Biệt Lục).
- Thuần dương (Trân Châu Nang).
- Vị ngọt, sáp, tính bình (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Vị ngọt, sáp, tính bình (Trung Dược Học).
QUY KINH:
- Vào kinh thủ Thiếu âm Tâm, thủ Quyết âm Tâm bào, túc Thiếu âm Thận, túc Quyết âm Can (Bản Thảo Cương Mục).
- Vào kinh túc Quyết âm Can, túc Thiếu dương Đởm, túc Thiếu âm Thận (Bản Thảo Kinh Sơ).
- Vào kinh: Can, Đởm, Tâm, Thận (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Vào kinh Tâm, Can, Thận, Đại trường (Trung Dược Học).
ĐỊA LÝ:
Hiện nay Việt Nam còn phải nhập của Trung Quốc.
BỘ PHẬN DÙNG:
Khối xương đã hóa đá (như đá vôi). Long cốt là thứ xương của loài động vật, chôn dưới đất lâu năm hóa đá, sắc trắng, chắc, cứng, có thứ sắc hơi nâu, xanh, vàng, hoặc lốm đốm. Để vào đầu lưỡi thì dính chặt. Loại dòn, chia từng lớp, có vân hoa mầu lam tro, đỏ hoặc nâu mà sức hút ẩm mạnh là tốt.
MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:
Long cốt hình khối không nhất định, to nhỏ không đều. Mặt ngoài mầu trắng, trắng đục hoặc trắng vàng, thường nhẵn, có vân và kẽ nứt hoặc vân mầu nâu, có những đốm chấm. Cứng, mặt cắt ngang không bằng phẳng, mầu trắng,. Chỗ khớp xương có nhiều lỗ nhỏ như tổ ong. Không mùi, không vị.
THU HOẠCH:
Quanh năm. Khi đào được, cần bọc kỹ ngay vì gặp không khí thường dễ bị vụn ra.
BÀO CHẾ:
- Theo Trung Y: Nung đỏ, tán bột dùng hoặc dùng sống (Bản Thảo Cương Mục). Tẩm rượu một đêm, sấy khô tán bột rồi đem thủy phi 3 lần: khi nào uống, hòa với thuốc sắc, không sắc chung.
- Theo kinh nghiệm Việt Nam: Đem Long cốt bỏ vào lò lửa nung cho thật đỏ, thời gian 4 giờ, để nguội, tán bột thật mịn dùng cho thuốc sắc hoặc thuốc hoàn tán. Cũng có trường hợp cá biệt dùng sống hoặc khi nung đỏ nhúng vào dấm rồi mới để nguội, tán bột dùng.
BẢO QUẢN:
Để nơi khô ráo, tránh ẩm mốc.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị hỏa tà mạnh quá sinh ra cuồng, thức ngủ không yên: Quế chi (bỏ vỏ) 90g, Chích thảo 60g, Sinh khương (thái phiến) 90g, Mẫu lệ (nung) 150g, Long cốt 120g, Thục tất 120g. Tán bột. Nấu Thục tất trước, sau đó cho các thuốc vào, lọc bỏ bã, uống ấm (Quế Chi Khứ Thược Dược Gia Thục Tất Long Cốt Mẫu Lệ Cứu Nghịch
Thang – Thương Hàn Luận). - Trị hay quên: Long cốt, Hổ cốt, Viễn chí, lượng bằng nhau, tán bột. Uống 1g sau bữa ăn, ngày 2 lần (Thiên Kim Phương).
- Trị trẻ em nóng lạnh không đều, tiêu chảy: Long cốt, Hoàng liên, Bạch thạch chi, Bạch phàn, Can khương, Mộc hương, giã nhỏ rây bột, cho dấm vào bột quấy thành hồ, trộn với thuốc làm viên như hạt mè, uống với nước cơm hay cháo, mỗi ngày uống 3, 4 lần (Long Cốt Hoàn – Ấu Khoa Phát Huy).
- Trị Tâm hư, ra mồ hôi trộm: Long cốt (nung) 15g, Phục linh 30g, Nhân sâm 18g, Liên nhục 90g. Đều sao qua, tán bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g với nước sôi (Phương Mạch Chính Tông).
- Trị sau khi sinh, mồ hôi ra không dứt: Long cốt 30g, Ma hoàng (rễ) 30g. Tán bột. Mỗi lần uống 6g với nước cháo (Thánh Huệ Phương).
- Trị tiểu nhiều, tiểu buốt: Bạch long cốt, Tang phiêu tiêu, lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần uống 6g với nước muối (Mai Sư Phương).
- Trị di tinh, cứ đi ngủ là tinh tiết ra: Bạch long cốt 4 phần, Phỉ tử 5 hợp. Tán nhuyễn. Mỗi lần uống 3g, lúc đói với rượu (Mai Sư Phương).
- Trị lao tâm, mộng tinh, tiết tinh: Long cốt, Viễn chí, lượng bằng nhau, tán bột, trộn với mật làm viên, to bằng hạt bắp. Mỗi lần uống 30 viên với nước sắc hạt Sen (Hoạt Ấu Tâm Thư).
- Trị tiểu đục: Cơm gạo nếp phơi khô 60g, Xích thạch chi (sao hơi vàng) 60g, Bạch phục linh (bỏ vỏ) 60g. Tán bột, trộn với dấm và miến hồ, làm thành viên, sấy khô. Mỗi lần uống 50 viên, lúc đói, trước bữa ăn, với nước muối (Long Cốt Hoàn – Thế Y Đắc Hiệu Phương).
- Trị băng huyết không ngừng: Long cốt (nung) 30g, Đương quy, Hương phụ đều 30g, Tông lư (tro) 15g. Tán bột. Mỗi lần uống 12g với nước cơm, lúc đói (Cảnh Nhạc Toàn Thư).
- Trị tiêu chảy không ngừng: Bạch long cốt, Bạch thạch chi. Lượng bằng nhau, trộn với nước, làm thành viên, to bằng hạt bắp. Tùy tuổi mà dùng (Toàn Ấu Tâm Giám).
- Trị bỏng nước: Long cốt, Sinh thạch cao, Đại hoàng, Nhi trà. Lượng bằng nhau, tán thật nhuyễn, hòa với nước trà lạnh thành dạng hồ, đắp chỗ bỏng, ăng lại. Cách ngày thay 1 lần (Trung Y Tạp Chí 1957 (4): 212).
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Kiện Tỳ, sáp trường vị, chỉ tả lỵ. Trị tiêu khát, có thai mà bị lậu thai, tiêu ra máu, chảy máu mũi, thổ huyết (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
- Trị tinh hoạt, đại trường hoạt không thể thiếu được vị này (Bản Thảo Diễn Nghĩa).
- An thần, bình Can, tiềm dương, thu liễm, cố sáp (Trung Dược Học).
- Dùng sống thì tiềm dương, dùng nung thì cố sáp. Dùng sống trị ra nhiều mồ hôi, hư suyễn, sợ hãi, điên cuồng, mất ngủ. Nung lên dùng thì trị di tinh, băng huyết, ra khí hư, tả, lỵ. Dùng ngoài để thu miệng nhọt, lên da non (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Trấn tâm an thần, bình Can, tiềm dương, thu sáp, cố thoát, chỉ huyết, liễm sang. Trị hồi hộp lo sợ, mất ngủ, hay quên, điên cuồng, chóng mặt, hoa mắt, mồ hôi trộm, mồ hôi tự ra, di tinh, tiểu nhiều, tiêu chảy lâu ngày, kiết lỵ lâu gầy, mụn nhọt lở loét lâu ngày không liền miệng (Trung Hoa Bản Thảo).
KIÊNG KỴ:
- Nếu mồ hôi ra, tiêu chảy, băng huyết thuộc về nhiệt uất tích trệ thì cấm dùng. Nếu không phải đi lỵ kéo dài hư thoát thì không được sử dụng liều lĩnh (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Kiêng thấp nhiệt, phần biểu thịnh (Trung Dược Học).
LIỀU DÙNG:
9g – 30g.
THAM KHẢO
- Long cốt tính sáp, sáp có thể trừ thoát, vì vậy Thành Vô Kỷ cho rằng Long cốt có thể thu liễm chính khí bị phù việt, sáp trường, trấn kinh. Lại chủ trị mạch Đới gây bệnh (Bản Thảo Cương Mục).
- Long cốt tính sáp mà chủ thu liễm, các chứng tiêu chảy, kiết lỵ, trường tích, phụ nữ bị lậu hạ, băng trung, tiểu ra máu... đều do huyết nhiệt, tích trệ gây nên. Điều trị: Thông lợi, sơ tiết, không thể chỉ dùng thuốc cố sáp, sợ rằng tích trệ máu ứ bên trong làm hại ngược lại vậy. Riêng kiết lỵ lâu ngày bị hư thoát không cần kiêng (Bản Thảo Kinh Sơ).
- Long cốt có thể trị bệnh âm dương nghịch nhau. Như âm không thể giữ được dương mà sinh ra sợ hãi, điên cuồng, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm. Giống như dương không thể giữ được âm gây ra tiêu chảy lâu ngày, tiểu gắt, tiểu nhiều, chảy máu răng, tiểu ra máu, phụ nữ bị băng huyết, đới hạ, lòi dom. Hoặc âm không giữ được
dương, dương không vì âm mà cố xáp lại gây nên mộng tinh, di tinh, trúng phong... Các loại như trên, dùng Long cốt làm chính để trị (Bản Thảo Thuật). - Kinh giản, điên, sợ hãi, co giật đều là Can khí ngược lên kèm đờm, xâm nhập vào Tâm, Long cốt có thể thu hỏa, an thần, khứ đờm, giáng nghịch, vì vậy, nó là thánh dược để trị kinh giản, điên, sợ hãi vậy. Đờm là thủy theo hỏa mà sinh, Long cốt có thể dẫn hỏa ngược lên, thủy trở về nhà ở của nó. Hợp với Mẫu lệ là thần dược để trị đờm. Người đời nay chỉ biết dùng sáp để cố thoát, cớ sao nông cạn như vậy!
(Bản Thảo Kinh Độc). - Long cốt và Mẫu lệ có tác dụng giống nhau, nhưng Mẫu lệ vị mặn, tính sáp, vào Thận, có tác dụng làm mềm chất cứng, hóa đờm, thanh nhiệt. Còn Long cốt vị ngọt, tính sáp, vào Can, có tác dụng thu liễm, cố thoát, trấn kinh, an hồn (Bản Thảo Cầu Chân)

