Xuất xứ:
Danh Y Biệt Lục , họ Hành Tỏi
TÊN KHÁC
Hồ, Huân, Huân thái, (Bản Thảo Cương Mục), Thiên sư hồ (Hòa Hán Dược Khảo), Toán đầu, Đại toán đầu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Tỏi (Dược Điển Việt Nam).
MÔ TẢ:
Cây thảo, thân hành gồm nhiều hành con, thường gọi là ánh tỏi xếp lợp lên nhau. Lá phẳng, mỏng, có rãnh dọc, hình dải gân song song. Hoa tự xim co ngắn, giống như tán, hoa màu trắng hoặc hơi hồng. Quả nang có 3 ngăn.
PHÂN BIỆT:
Khác với cây Tỏi độc, Cây này chưa thấy ở Việt Nam, dùng nó để trị bệnh Gout (thống phong), dùng nhiều hoặc lâu sẽ bị ngộ độc.
TÍNH VỊ QUY KINH TÍNH VỊ:
- Vị cay, tính ôn, có độc (Danh Y Biệt Lục).
- Còn sống có vị cay, tính nhiệt. Nấu chín có vị ngọt, tính ôn (Tùy Tức Cư Ẩm Thực Phổ).
- Vị cay, tính ôn (Trung Dược Học).
- Vị cay thơm nồng. Tính nóng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Vị cay, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
QUY KINH:
Vào kinh Thái dương, Dương minh (Bản Thảo Cương Mục).
Vào kinh túc Dương minh Vị, túc Thái âm Tỳ, túc Quyết âm Can (Bản Thảo Kinh Sơ). Vào kinh Tỳ, Vị, Phế (Trung Dược Học).
ĐỊA LÝ:
Có khắp nơi trong nước ta, cây được trồng làm gia vị và làm thuốc. Trồng bằng thân vào mùa Đông xuân.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Thu hái vào mùa đông. Phơi khô cất dùng.
BỘ PHẬN LÀM THUỐC:
Thân củ).
BÀO CHẾ
Rửa sạch đất cát, lấy loại chỉ có một củ tỏi (độc toán) là tốt nhất. Dùng để cứu thì cắt thành những miếng mỏng.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Dùng tỏi tươi để cứu chứng phát bối, khi thấy sau lưng sưng cứng đau nhức, dùng giấy thấm nước, tìm đầu của mụn nhọt nơi nào, thì dùng Tỏi 10 củ, Đạm đậu xị nửa chén, Nhũ hương 4g tán bột, tùy nhọt lớn hay nhỏ, dùng mảnh tre khoanh tròn để thuốc vào trong đó dầy 2 phân, cứu cho tới khi ngứa, ngứa thì cứu cho tới khi đau, cứu như vậy hàng trăm tráng (Ngoại Khoa Tinh Yếu Phương).
- Trị huyết nghịch làm đau tim: Tỏi sống, giã, vắt lấy nước uống 2 thăng (Trửu Hậu Phương).
- Trị viêm quầng (đơn độc), màu sắc thay đổi không thường, phát từ chân tới mắt cá, đâm Tỏi đắp dầy lên liên tiếp khi khô thì thay (Trửu Hậu Phương).
- Trị sốt rét: Tỏi để trên than nướng cháy, tán bột, uống mỗi lần 1 muỗng với rượu. Muốn giản tiện hơn, dùng Đào nhân nửa cân để trên huyệt Nội quan rồi lấy Tỏi giã nát, đắp lên đó, nam tả, nữ hữu (Trửu hậu phương).
- Trị hầu tý sưng đau: Tỏi nhét vào trong mũi và tai, ngày thay 2–3 lần (Trửu Hậu Phương).
- Trị chứng quan cách, bụng căng đầy, bí tiểu, bí đại tiện: Tỏi củ đốt chín, bỏ vỏ, lấy bông bao lại, đút vào hậu môn thì thông khí (Ngoại Đài Bí Yếu).
- Trị răng đau: Tỏi loại 1 củ, nướng chín, xắt ra, xát vào nơi đau (Ngoại Đài Bí Yếu).
- Trị nhiễm trùng do vết thương dao đâm chém: Tỏi 1 thăng, nấu với 4 thăng nước cho nhừ, ăn và uống cho ra mồ hôi là khỏi (Ngoại Đài Bí Yếu).
- Trị tiêu chảy, bạo lỵ: Tỏi 1 củ, giã nát, dán lên lòng bàn chân, có thể dán giữa rốn, để trị trẻ nhỏ bị chảy, hạ lỵ, cấm khẩu (Thiên Kim Phương).
- Trị yết hầu nghẹt, khó thở: Dùng loại Tỏi 1 củ, 2 củ, cắt 2 đầu, nghẹt bên phải thì nhét vào mũi bên trái và ngược lại, thấy trong họng có máu mủ ra là tốt (Thánh Huệ Phương).
- Trị đầu phong nhức nhối: Tỏi 7 củ, bóc vỏ, trước hết nướng cho chín hồng lên rồi mài trên đất cho thành cao, rồi lấy Cương tàm 40g, bỏ chân và đầu đi, để trên Tỏi, lấy chén đậy lại 1 đêm, đừng cho không khí vào, sáng mai chỉ lấy Cương tàm, tán bột, thổi vào mũi. Trong miệng phải ngậm nước để khỏi sặc. Rất hiệu nghiệm, có thể trị được trẻ con kinh phong (Thánh Tế Tổng Lục).
- Trị hoắc loạn làm vọp bẻ: Tỏi giã nát, rịt dưới lòng bàn chân (Vĩnh Loại Kiềm Phương).
- Trị phụ nữ âm hộ sưng đau, ngứa ngáy: nấu nước Tỏi rửa ngâm (Vĩnh Loại Kiềm Phương).
- Trị bụng đau co thắt không chịu được: Dùng loại Tỏi 1 củ, trộn với mực xạ thơm (Hương mặc) bằng trái táo, giã nát, trộn với nước tương, uống 1 chén (Vĩnh Loại Kiềm Phương).
- Trị phù thũng căng đầy: Tỏi, Ốc đồng, Xa tiền tử, các vị bằng nhau, nấu thành cao, phết lên giấy, dán lên rốn thì nước trong người theo tiểu mà ra ngoài (Cừu Viễn Bại Sử Phương).
- Trị sơn lam chướng khí: Tỏi sống và chín, mỗi thứ 7 lát, ăn chung, một lúc sau bụng sôi và mửa ra máu hoặc tiêu chảy thì khỏi bệnh (Nhiếp Sinh Chúng Diệu Phương). Trị sốt rét: Ngày Đoan Ngọ chọn tỏi nướng chín rồi giã thêm Phèn chua, 2 vị bằng nhau, làm thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 9 viên (Phổ Tế Phương).
- Trị tiêu ra máu (trường độc hạ huyết): Tỏi (thứ 1 củ) to, nướng, giã nhỏ, trộn bột Hoàng liên làm viên, uống hằng ngày với nước cơm (Tế Sinh Phương).
- Trị tiêu ra máu nghiêm trọng: Tỏi 5 củ, bỏ vỏ, giã nát, bỏ Đậu xị vào làm thành viên to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50-60 viên, với nước cơm (Bản Thảo Diễn Nghĩa).
- Trị chảy máu cam không cầm, uống thuốc không khỏi: Tỏi 1 củ, bỏ vỏ, giã nát như bùn, làm thành bánh bằng đồng tiền, dầy bằng hạt đậu. Mũi trái chảy máu thì dán vào lòng bàn chân trái, bên phải thì dán vào lòng bàn chân phải, nếu cả 2 bên thì dán cả 2 chân (Giản Yếu Tế Chúng Phương).
- Trị bụng ngực đau lạnh: Tỏi ngâm dấm 2-3 năm, ăn vài củ (Tập Giản Phương).
- Trị bụng đau, khóc dạ đề xanh mặt: Tỏi lớn 1 củ, đốt, nghiền, phơi nắng, Nhũ hương 2g, tán nhuyễn, làm viên to bằng hạt Cải. Mỗi lần uống 7 viên với nước sữa (Thế Y Đắc Hiệu Phương).
- Trị khí thống do hàn thấp: lấy Tỏi vào ngày Đoan Ngọ, chọn loại 1 củ, ngay lúc ấy giã nát, bôi vào (Đường Dao Kinh Nghiệm Phương).
- Trị phong khí độc: dùng Tỏi loại 1 củ trộn với Hùng hoàng, Hạnh nhân, nghiền bột, làm thành viên, mỗi lần uống 3 viên, lúc bụng đói, nằm một chút thì yên (Thực Liệu Bản Thảo).
- Trị mắc xương ở họng: Tỏi loại một củ, nhét trong mũi, xương sẽ tự nhiên ra (Thập Tiện Lương Phương).
- Trị lông mày co giật, không nhắm mắt được, gọi không trả lời nhưng ăn uống được: Tỏi 120g, giã lấy nước, trộn rượu cho uống (Hạ Tử Ích Kỳ Tật Phương).
- Trị long óc, chảy nước ở mũi: Tỏi lớn, xắt lát, dán ở lòng bàn chân (Trích Huyền Phương).
- Trị đầu phong nhức nhối: lấy tỏi giã lấy nước, nhỏ vào trong lỗ mũi (Dị Giản Phương).
- Trị trẻ nhỏ bị uốn ván: dùng Tỏi loại 1 củ, xắt lát để trên rốn rồi lấy Ngải cứu để cứu, trong miệng có hơi tỏi là thôi (Giản Dị Phương).
- Trị trẻ nhỏ bị chứng khí lâm, Tống Minh Tông là quân vương lúc bấy giờ, con ông mắc phải chứng đái ngày đêm 300 lần, các ngự y đều bó tay, sau mời Tôn Lâm đến trị, ông dùng Tỏi, Đạm đậu xị, bánh chưng, 3 thứ giã, làm thành viên, uống với nước ấm 30 viên. Ông nói rằng, hôm nay uống 3 lần bệnh giảm 1/3, ngày mai cũng vậy, 3 ngày thì hết bệnh. Mà quả thật, bèn tặng cho ông 100 quan tiền và hỏi tại sao khỏi? Ông trả lời, trẻ con vì sao có chứng lâm, chỉ có thủy đạo không thông, cả 3 vật là đều thông lợi nên có thể trị được (Đàm Tẩu Phương).
- Trị sản hậu trúng phong, nảy ngược người, gọi là sản giật: Tỏi 30 tép, lấy 3 thăng nước sắc còn 1 thăng cho uống (Tử Mẫu Bí Lục).
- Trị âm hộ ra nhiều mồ hôi, sinh ra ngứa ngáy khó chịu, dùng Tỏi, Đạm đậu xị, đâm làm viên bằng hạt ngô đồng, dùng Chu sa áp bên ngoài, lần uống 30 viên lúc đói với nước Đăng tâm (Tử Mẫu Bí Lục).
- Trị tiểu gắt khi có khi không: Tỏi 1 củ, lấy giấy bọc lại, nướng chín, để giữa sương 1 đêm, uống với nước dòng sông mới múc lên (Chu Thị Tập Nghiệm Phương).
- Trị độc của sâu bắn phải: Tỏi 1 cu,Ư cắt làm 3 phần, dán lên trên vết thương rồi cứu làm cho hơi Tỏi thấm bên trong là được (Mai Sư Phương).
- Trị rắn, rết, bọ cạp cắn: nhai tỏi đắp lên nơi cắn, thay 7–8 lần, rồi lấy 1 thăng Tỏi bỏ vỏ, 2 thăng sữa nấu chín uống lúc đói, ngày mai lại làm tiếp, bên ngoài cũng lấy Tỏi bỏ vỏ đi 1 thăng, giã nát, nấu cho thật sôi, ngâm vào chỗ đau (Thực Liệu Bản Thảo).
- Trị ống chân đau, vọp bẻ: Tỏi, xát vào lòng bàn chân cho nóng, rồi ăn một múi với nước lạnh (Tập Nghiệm Phương).
- Trị đinh nhọt, độc dữ: dùng vôi tường cửa một nhúm, tán bột, dùng 1 củ Tỏi chấm vôi xức vào nơi đau cho ra một tí mồ hôi, rồi xát tiếp ít lâu là nó tan đi. Loại phát bối cũng có thể dùng được (Ngoại Khoa Tinh Yếu Phương).
- Trị giun kim, ngứa ngoài âm đạo và ngứa hậu môn: Tỏi 120g, bỏ vỏ, giã nát, thêm 2 cân nước, nấu 24 giờ bỏ bã, lấy nước rửa ngoài hậu môn, âm đạo trước khi đi ngủ, đồng thời lấy 10cc nước Tỏi thụt vào hậu môn liên tục 7 ngày (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị rắn độc cắn, rết độc cắn: Tỏi 4–12g chỉ, Sơn đậu căn 4–12g, sắc lấy nước uống, đồng thời dùng Tỏi giã nát đắp bên ngoài (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị ngộ độc Cua đồng: Dùng Tỏi sắc lấy nước, (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị viêm âm đạo do trùng roi (Trichonomas): Tỏi giã nát, đổ nước vào, tẩm bằng băng sạch, đặt trong âm đạo, đồng thời lấy nước này dùng băng rịt ngoài âm đạo và quanh hậu môn (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị khuẩn lỵ và lỵ amip: Dùng 5% dung dịch Tỏi thụt vào ruột (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị nhọt lở sưng độc: dùng loại Tỏi 1 củ (độc toán) đâm nát gia thêm một tí dầu mè hoặc các loại dầu thực vật khác, trộn đều dán lên chỗ lở, thay tiếp khi khô (Đại Toán Cao – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị ho gà: Tỏi vỏ tím, Bách bộ, Tử uyển mỗi thứ 40g. Tỏi nấu nước để nguội, rồi đem nước Bách bộ, Tử uyển sắc bỏ bã, thêm đường trắng vào, rồi bỏ nước Tỏi vào uống (Toán Bộ Hợp Tể – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị giun lãi kim, ngứa âm đạo và hậu môn: Tỏi 100g bỏ vỏ, giã nát, thêm nước 2 lít, ngâm 24 giờ, bỏ bã, lấy nước mỗi tối rửa âm hộ và hậu môn, đồng thời dùng 10ml thụt lưu đại tràng liên tục 7 ngày (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị viêm âm đạo do trùng roi: dùng nước Tỏi tẩm gạc, nhét vào âm đạo, đồng thời dùng nước loãng gấp đôi tấm gạc đắp âm hộ và hậu môn (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị ly trực khuẩn cấp và lỵ amip: Ăn tỏi sống đồng thời dùng 5% dịch tỏi thụt lưu đại tràng (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị mụn nhọt: Dùng cao Tỏi (lượng Tỏi vừa đủ, giã nát, cho ít dầu mè hoặc các loại dầu thực vật khác trộn đều, đắp lên nhọt, khô thì thay (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị rắn độc và rết cắn: Củ Tỏi 3-10g, Sơn đậu căn 3-10g, sắc uống. Đồng thời dùng Tỏi giã nát đắp ngoài (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị lao phổi: Tỏi 13 múi, Bạch cập 3g, Gạo nếp 30g, Nấu sôi tới 1 phút (đến khi nửa chín nửa sống, chín quá không tác dụng), lấy ra, cho nếp vào nấu thành cháo, cho Tỏi và bột Bạch cập vào khuấy đều cho uống 1 lần, mỗi ngày 1 lần, một liệu TRANG 7 trình là 15 ngày. Thường dùng 1 – 3 liệu trình là có kết quả (Đại toán hợp tể – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị phù thũng, bụng căng, tiểu không thông: Tỏi, Ốc ở sông (gọi là Điền loa), Xa tiền tử, giã nát như bùn, dán ở rốn và bụng dưới (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị lao phổi: Dùng Tỏi bóc sạch vỏ 15g, cho vào nồi chưng cho đến khi hết cay là được. Chia ra ăn hết trong ngày. Đồng thời cho uống Rimfon 300mg/ngày. Một liệu trình 2 tháng. Trường hợp nhiễm độc nặng, uống thêm bài thuốc chống lao (Sinh địa, Huyền sâm, Bắc sa sâm, Bản lam căn, Trắc bá diệp, Hạ khô thảo). Đã dùng trị 19 ca bệnh nhân lờn thuốc chống lao. Kết quả rõ 74%, có kết quả 21%, không kết quả 5%. Trong đó có 12 ca lao hang có 6 ca liền, 5 ca nhỏ lại và 1 ca không khỏi (Đinh Đào Sanh, Trị Lao Phổi Thể Thâm Nhiễm Bằng Tỏi – Trung y Hà Bắc Tạp chí 1987, 9 (5): 28).
- Trị nám phổi: Tỏi sống 6–9g, dùng nước lạnh rửa sạch, giã nát, cho vào nước sôi 60ml ngâm trong 1 giờ, bỏ bã, uống nước. Chia nhiều lần uống trong 1 ngày. Đây là liều lượng cho trẻ 1 tuổi, những lứa tuổi khác có gia giảm. Trị 28 ca, bình quân dùng thuốc từ 7–18 ngày khỏi (Lưu Văn Triều, Báo Cáo Điều Tri Nấm Phổi Trẻ Em Bằng Uống Tỏi, Trung Cấp Y Tạp Chí 1987, 6: 54).
- Trị Lipit huyết cao: dùng nang tinh dầu Tỏi, ngày 3 lần, một lần 2–3 nang, lượng mỗi ngày 0,12g (tương đương thuốc sống 50g), một liệu trình 30 ngày. Đã trị 274 ca. Nhận xét thấy thuốc có tác dụng hạ Lipit huyết, tăng cao HDL Cholesterol, giảm hàm lượng fibrinogen trong huyết tương (Trung Y Tạp Chí 1985, 2: 42).
- Trị viêm cầu thận cấp: Dùng Tỏi vỏ tím 250g, bỏ vỏ, Dưa hấu chín 1 quả (khoảng 3–4kg), móc 1 lỗ miệng hình tam giác, cho hết Tỏi vào, đậy nắp lại, cắt bỏ vỏ cứng bên ngoài, cho vào nồi nấu chín. Ăn hết cả quả dưa và Tỏi. Chia nhiều lần trong ngày, còn phần vỏ cứng, sắc nước uống thay nước trà. Đã trị 21 ca khỏi 14, tốt 5, không khỏi 2, (Trương Học An, Hồ Bắc Trung Y Tạp Chí 1986, 2: 51). Tri hói đầu: Dùng nước Tỏi vỏ đỏ tươi 3 phần, Glycerin 2 phần (tỷ lệ theo trọng lượng 3/1), trộn đều, xát vào chỗ hói, ngày 2–3 lần. Uống thêm bài Bổ Trung Ích Khí Thang. Đã tị 856 ca, khỏi trong thời gian từ 17 đến 46 ngày uống thuốc (Kim Trần Đống, Cát Lâm Y Học Tạp Chí, 1985, 5: 24).
CHỦ TRỊ TÁC DỤNG:
- Trị ung thũng, trùng sang, trừ phong tà, sát độc khí (Biệt Lục).
- Hạ khí, tiêu cốc, trừ phong, phá lãnh (Tân Tu Bản Thảo).
- Sát trùng (giun) (Thực Liệu Bản Thảo).
- Khứ thủy ác, chướng khí, trừ phong thấp (Bản Thảo Thập Di).
- Năng thông ngũ tạng, trừ hàn thấp, khứ tà ác, tiêu ung thũng, hóa trùng tích, nhục thực (Bản Thảo Cương Mục).
- Giải cảm, tiêu độc, sát trùng, trị đàm, lợi tiểu (Trung Dược Học).
- Trừ uế khí, sát trùng, giải độc thử, lợi đại tiểu tiện (Đông Dược Học Thiết Yếu).
CHỦ TRỊ:
Trị lỵ Amip, Giun kim, trúng độc cá, cua, phù thũng, cước khí (Trung Dược Học).
Trị tiêu chảy, lỵ do bệnh ôn dịch gây nên, sốt rét, ho lao (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
LIỀU DÙNG:
4–12g hoặc 1 củ tới 3 củ. Dùng loại nguyên một củ gọi là Độc toán càng tốt.
Khi dùng tươi đắp bên ngoài, cần cẩn thận lót thêm một lớp giấy ni lông (có đục lỗ) vì có thể gây bỏng da.
KIÊNG KỴ:
Âm hư có nhiệt cấm dùng (Trung Dược Học). Âm hư hỏa vượng cấm dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
THAM KHẢO
- Giã nước cốt Đại toán uống để trị thổ huyết, tâm huyết thống. Sắc nước uống trị phong đoàn gánh. Làm viên với cá Trích trị cách khí, hoàn với Cáp phấn trị phù thũng, hoàn với Hoàng đơn trị sốt rét, có thai kiết lỵ, hoàn với Nhũ hương trị máu cam. Giã nát thành cao đắp lên rốn thấu tới hạ tiêu, thì thông lợi được tiểu tiện. Dán đắp ở lòng bàn chân để dẫn nhiệt đi xuống, trị tiêu chảy, kiết lỵ cấp tính và chứng nôn khan tiêu chảy và ói mửa tiêu chảy, cầm huyết do tiêu chảy, cầm huyết do kinh nguyệt, trị sa trực trường. Thông tới u môn (vùng thượng vị) trị quan cách không thông (trên ói mửa, dưới bí đại tiện) (Bản Thảo Cương Mục).
- Hồ tức là Đại toán, bẩm khí của Hỏa kim mà sống, nên có vị cay khí ấm. Cay ấm quả nên có độc, mùi hôi khác thường, không nên ăn nhiều. Vào kinh Túc dương minh, Thái âm, Quyết âm kinh. Vị cay ấm nên khử được ố khí và tà khí, do đó chủ trừ phong tà, khử khí độc và ngoài tan được ung thũng sưng tấy, nhọt ngứa lở âm hộ, vị cay chạy khắp nơi không nơi nào không tới nên chủ quy về ngũ tạng, khí của tỳ vị ưa nhất là thơm tho, vì mùi hôi nồng nặc thì tổn thương thần và hao khí, nên dùng lâu ngày thì tổn thương người. Can khai khiếu ở mắt, mắt được huyết mà nhìn được, quá cay ấm thì huyết bị lao làm tổn thương mắt vậy. Tóm lại, công của Đại toán giỏi về thông đạt chạy tới các khiếu, trừ hàn thấp, khử tà ố khí, tan nhọt TRANG 9 sưng, tiêu tích tụ, ấm tỳ vị hành khí. Do đó, Tô Cung ghi rằng chủ khí đi xuống tiêu ngũ cốc thịt. Trần Tàng Khí cho rằng Đại toán chủ về phong thấp, xua tan khí lạnh, làm tan chứng tích tụ ở hông sườn (huyền tích), trừ tà khí ẩn náu, tuyên thông ôn bổ. Nhật Huệ Tử cho rằng Đại toán chủ về kiện tỳ vị, trị thận khí, cầm ỉa mửa, vọp bẻ, đau bụng, trừ tà khí, giải ôn dịch (Bản Thảo Kinh Sơ).
- Đại toán khí vị cay ấm, khai vị kiện tỳ, thông khiếu trừ ố, khu hàn trừ thấp, giải thử tán đờm, tiêu thũng, giải độc là thuốc đi đầu. Nghiên cứu thấy rằng đều bởi mùi cay thông được khí, tính ấm tan được hàn, mà các thứ độc, ác, thấp, nhiệt, tích, thử tà đều trừ được. Theo sách ghi rằng Đại toán có công năng làm mềm chất cứng rắn, tiêu thịt, sát trùng. Dùng nó đắp dán ở chân thì cầm được chảy máu cam. Dùng nó để khai đao thì thông được vùng thượng vị. Dùng nó để đắp rốn thì tiêu được thủy khí ở hạ tiêu. Dùng nó xắt lát để cứu ngải trừ được nhọt độc, sưng hạch; nhưng khí hôi nồng nặc, ăn nhiều sẽ rằng sinh đờm, động hỏa, tán khí, hao huyết, tổn mục hôn thần. Đại toán kỵ ăn chung với Mật ong (Bản Thảo Cầu Chân).
- Hồ sống thì cay ấm, chín thì ngọt ấm, trừ hàn thấp, diệt âm tà, hạ khí, ấm tỳ vị, tiêu ngũ cốc, thịt, phá ác huyết, công phá tích tụ do lạnh, trị đau bụng tiêu chảy cấp, thông nhuận đại tiện, cầm ói mửa, khử uế giải độc, tiêu bỉ khối, sát trùng, cứu ngoài trị ung nhọt, thông tiểu, cầm chảy máu cam, khử mùi tanh và độc của các loài cá cua tôm. Dùng thuốc lấy củ độc nhất là tốt, mờ mắt tổn thân nên không được dùng nhiều. Các chứng âm hư nội nhiệt, thai sản, đau bụng, tiêu chảy, ban trái, bệnh lây lan sốt rét, nhọt độc, huyết chứng, bệnh mắt, các chứng miệng, họng, răng, lưỡi đều kiêng dùng, mầm củ non có thể ướp muối cất giữ. Lá cũng có thể ăn được, tính vị như Hồ (Tùy Tức Cư Ẩm Thực Phổ).
- Đại toán tức là tỏi nhiều lần dùng để cứu người đều đạt hiệu quả như thần. Lư Đản Thị Lang trị mụn nhọt trên vai, đau lan ngực, phiền muộn dùng thuốc này bèn khỏi. Ông Lý Bộc Xạ trị chứng não ung lâu ngày không lành, ông Lư cho dùng phương này cũng lành. Trong sách Trửu Hậu Phương của Cát Hồng cho rằng hễ sưng ở lưng lấy Tỏi (chỉ 1 củ) xắt ngang, dầy 1 phân, đặt trên chỗ sưng, lấy mồi ngải to như hạt ngô đồng, (đặt lên Tỏi) cứu 100 tráng thì tiêu dần sưng, cứu nhiều thì tốt, đừng để nóng quá, nếu cảm thấy đau rát thì thay lát tỏi mới khác, không nên làm tổn thương nơi da thịt. Ông Cát Hồng đã từng khổ nhiều về chứng sưng to vùng bụng dưới, cứu cũng lành, thường dùng nó cứu người đều đạt hiệu quả tốt. Trong bản khắc đá của Tử Cực Cung Giang Ninh phủ có chép rằng: Phát bối và sưng hạch ung nhọt độc, lúc ban đầu có khác, đều có thể cứu cả, chẳng kể bao nhiêu mồi, chỉ cần người đau cứu đến không đau, người không đau cứu đến rất đau thì thôi. Các loại da cóc, mụn ruồi, cứu cũng sẽ kết vẩy và tự rụng đi, tất cả đều công hiệu như thần, mới biết là phương thư không phải nói sai, nhưng người ta không hiểu ý cứu xét tỉ mỉ thì không thể đều đạt cả (Đồ Kinh Bản Thảo).
- Theo Lý Tấn luận về Toán tiền cứu pháp, mọc ung nhọt cứu mồi ngải hay hơn dùng thuốc, nhiệt độc bị ngăn ở giữa, trên dưới không thông, khí độc ắt được phát tiến ra, rồi sau đó giải tán hễ trong vòng ngày đầu mới phát, dùng loại Tỏi củ 1 tép, thái dày bằng đồng tiền, dán trên đỉnh cứu, 3 mồi đổi 1 lát tỏi khác, đại khái chừng 100 mồi là đạt, một là làm cho nhọt không khuếch đại, hai là làm cho thịt không thối, ba là làm cho dễ gom miệng đúng là nhất cử tam đắc. Nhưng chú ý đầu và trên cổ không được cứu, e rằng dẫn khí đi lên, gây ra họa lớn. Ngoài ra, Sử Nguyên ghi công hiệu của cách cứu tỏi rằng, có người đàn bà ở vùng lưng ngứa, có mụn đỏ khoảng nửa thốn, hạt trắng như hạt bắp, cứu 14 mồi, thì mụn đỏ bèn tan, qua đêm hôm sau có nước đỏ hồng chảy xuống, dài 2 thốn, cả nhà đều quy tội là do cứu, bên ngoài dùng cao đắp ngày càng đỏ thêm, sau 22 ngày thì chiều ngang nhỏ khoảng 6–7 thốn, đau nhức không xiết. Hoặc kể rằng có một ni cô bị bệnh thế này, sau cứu đã lành, tôi đến hỏi ni cô, cô nói rằng, lúc nặng quá thì hôn mê bất tỉnh, chỉ nghe ông Phạm Phùng Nghị ngồi kế bên cứu 800 mồi mới tỉnh, cứu khoảng 1 rổ ngải. Tôi đành chạy về, dùng một mồi ngải lớn bằng hạt Ngân hạnh, cứu hơn mười mồi vẫn chẳng thấy gì bèn chuyển cứu 4 bên, nơi đỏ đều đau cả, khi mỗi một mồi tàn thì vùng đỏ đều rút nhỏ, cứu được hơn 30 mồi thì nơi mụn đỏ đã tan, bởi cứu trễ nên bắp thịt ban đầu đã bị hoại tử, nên không biết đau, ngải cứu khi đến phần thịt lành mới biết đau, đến tối thì đỏ tấy cả lưng, nhọt cao gồ mà nóng, đêm ngủ yên được, sáng hôm sau như sưng lên một cái chậu nhỏ, cao 3–4 thốn, trên có hàng trăm lỗ nhỏ màu đen, sau xử lý đã ổn định. Cao gồ lên là độc bị đẩy ra ngoài, lỗ nhỏ nhiều là độc không tựu một chỗ nữa, màu đen là da thịt hoại tử vậy. Nếu ngải không đẩy độc bên trong thịt thối thì độc sẽ thông vào ngũ tạng bên trong, rất là nguy hiểm vậy! Người thầy thuốc bình thường (dung y) với cái thuyết đắp lạnh làm cho tiêu tán, thì sao mà tin vậy được (Bản Thảo Cương Mục).
- Củ Tỏi có tính cay, nóng, hơi nồng, hơn cả Hành, Hẹ, đứng đầu năm loại rau cay. Tuy rất hôi hăng nhưng lại tránh được hôi, ô uế, cho nên các thức ăn tanh hôi cùng nấu với Tỏi đều có thể giải được mùi (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Mùa hè ăn Tỏi thì giải được khí nắng nóng (Đông Dược Học Thiết Yếu).


