Đan Sâm

Bạn đánh giá: 3 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Xuất xứ: Bản Kinh, Rễ giống như Sâm, có màu đỏ như Chu sa, vì vậy được gọi Đan sâm

TÊN KHÁC

Khích thiền thảo (Bản Kinh), Xích sâm (Biệt Lục), Mộc dương nhũ (Ngô Phổ bản thảo), Trục mã (Biệt Lục), Bôn mã thảo (Tiêu Bỉnh), Sơn sâm (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Tử đơn sâm, Xích đơn sâm, Trư huyết đơn sâm, Huyết đơn sâm, Hồng căn, Sơn tô tử, Phong dương quan (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

MÔ TẢ

Cây thân thảo, thân cây vuông cạnh trên có gân dọc, cao 30 – 60cm. Toàn thân mang lông ngắn màu vàng hơi nhạt. Rễ nhỏ dài hình trụ đường kính 0,5 – 1,5cm đặc biệt có màu đỏ nâu. Lá kép mọc đối gồm 5 hay 7 thùy hình tròn trứng. Lá chét giữa thường lớn hơn cả. Lá kép có cuốn dài cuốn lá chét ngắn. Lá chét dài 2 – 7,5cm, rộng 0,8 – 5cm. Mép lá chét, có răng cưa tù, mặt trên lá chét màu xanh tro, cũng có lông nhưng dài hơn. Gân nồi ở mặt dưới, chia phiến lá chét thành múi nhỏ. Hoa mọc thành chùm ở đầu cành, dài 10 – 15cm, với nhiều vòng hoa: mỗi vòng 3 – 10 hoa, thường là 5 hoa. Hoa hình môi nhỏ màu tím nhạt, hoa tự hình bánh xe. Có hai môi, môi trên cong thành hình lưỡi liềm, môi dưới xẻ 3 thùy, thùy giữa có răng cưa tròn. Hai nhụy ở môi dưới. Bầu có vòi dài ra ở môi trên. Quả nhỏ, dài 3mm, rộng 1,5m. Mùa hoa tháng 5 – 8, quả tháng 8 – 9.

TÍNH VỊ QUY KINH

TÍNH VỊ:

  • Vị đắng, tính hơi lạnh (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Vị cay, tính hơi lạnh (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Vị cay, tính hơi lạnh (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

QUY KINH

  • Vào kinh Tâm, Can (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Vào kinh Tâm, Can (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Vào kinh Tâm, Can (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

ĐỊA LÝ

Cây mới được di thực vào Việt Nam, hiện đang gây giống ở Tam Đảo.

Nói chung ở Việt Nam có thể cây sinh trưởng được trên nhiều loại đất, nhưng trồng trên đất pha cát hướng về phía đông, có lớp đất sâu dày, màu mỡ thì tốt nhất, nếu trồng trên đất sét hay đất thấp thì không những cây mọc kém, đào tốn công, mà còn làm cho rễ trở thành màu đen, chất lượng không bảo đảm.

THU HÁI, SƠ CHẾ

vào khoảng thượng tuần tháng 11 đến thượng tuần tháng 3 năm sau là mùa thu hoạch. Nên thu hoạch trước hoặc sau Lập đông (thượng tuần tháng 11) là tốt nhất. Thu hoạch quá sớm hay muộn đều ảnh hưởng rất lớn đối với sản lượng và chất lượng. Quá sớm thì rễ còn non, chứa nhiều nước phơi lâu khô, phẩm chất sẽ kém, quá muộn thì rễ đâm chồi, làm cho phẩm chất kém.

Đào chung quanh gốc, sau đó đào vào gốc cho cẩn thận không được để gãy hoặc đứt. Đào xong đem phơi, không được đem rửa nước vì rửa như thế sẽ biến chất. Khi mang về nhà thì rải lên giàn, hong gió hoặc bó thành những túm nhỏ nơi thoáng gió, phơi trong râm chừng 5 – 6 ngày thì khô, lúc rễ đã mềm. Lúc đã khô xong thì đem hơ qua lửa, sau đó bỏ vào sàng, sàng qua sàng lại để đất cát lọt xuống, loại bỏ rác. Cứ 3kg tươi sau khi phơi sấy khô thì thu được 1 kg khô thành phẩm.

BỘ PHẬN LÀM THUỐC:

Rễ (vẫn gọi là củ).

MÔ TẢ:

Thân rễ khô có hình viên trụ dài nhỏ, thường cong nhiều lần hoặc lượn uốn phần mút trên, có khi mang nhiều đầu rễ nhánh phụ lớn, dài toàn thể chừng 12cm – 20cm. Bên ngoài biểu hiện màu hồng tím, có dấu nhăn dọc rãnh hơi sâu, rề thô có khi có những đường nứt, râu rễ hoặc vết sẹo khi đứt còn dấu ở rể có thể thấy được, chất cứng dễ gẫy, bẻ ngang. Loại rễ to chắc, khô, mềm, màu đỏ tía, trong có mầu vàng thâm mịn, không có xơ, không có rễ con là tốt. Củ cứng dòn, gầy, đen, có xơ là xấu.

BÀO CHẾ BÀO CHẾ:

Tẩm nước, ủ mềm, xắt lát dùng sống hoặc sao qua, có khi tẩm rượu sao qua (tùy theo đơn). Rửa sạch, đề ráo nước, ủ mềm một đêm, xắt lát mỏng, phơi khô dùng. Tẩm rượu 1 giờ rồi sao qua.

BẢO QUẢN:

Dễ hút ẩm, mốc mọt, cần phơi khô, cất kín. Có thể sấy hơi Diêm sinh.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị hư thai, huyết ra: Đan sâm 160g, rượu trắng 5 thăng, sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, liên tục 3 ngày, nếu không co rượu thì sắc với nước cũng được (Thiên Kim Phương).
  • Trị hư thai, huyết ra: Đan sâm, Đương quy, Ngưu tất, Tế tân, uống (Thiên Kim Phương).
  • Trị sốt, động kinh: Đan sâm mài thành cao. Đan sâm, Lôi hoàn đều 15g, mỡ heo 60g, nấu đặc, bỏ bã, cất để dùng. Khi dùng, xoa lên mình đứa trẻ, ngày 3 lần (Thiên Kim Phương).
  • Trị bỏng nóng, để làm giảm đau và sinh cơ: Đan sâm 8 lượng, giã nát, trộn nước cho đều, sắc với 2 cân mỡ Dê đề nguội, đắp lên nới bỏng (Trửu Hậu Phương).
  • Trị đau bụng do hàn sán, đau cơ quan sinh dục lan đến bụng dưới, toát mồ hôi hột đau muốn chết: Đan sâm 30g, tán bột, mỗi lần uống 6g với rượu nóng (Thánh Huệ Phương).
  • Trị sưng vú: Đan sâm, Bạch chỉ, Thược dược, đều 60g, thái nhỏ, ngâm với dấm một đêm, mỡ heo 240g, nấu nhỏ lửa cho thành cao, bỏ bã, dùng để bôi (Bí Hiệu Phương).
  • Trị phụ nữ kinh nguyệt không đều, trước khi sinh bị động thai, sau khi sinh sản dịch không xuống hết, hư lao, khi sốt khi lạnh, đau sống lưng, đau nhức các khớp: Đan sâm tán bột, mỗi lần uống 6g với rượu ấm (Đan sâm tán – Phụ Nhân Minh Lý Phương).
  • Bổ tâm: dùng Đan sâm kết hợp với bài Thiên vương bổ tâm đơn (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Mạnh chân, đi bộ khỏe: Đan sâm, Ngưu tất, Địa hoàng, Hoàng kỳ, Hoàng bá, lượng bằng nhau, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị khi sốt khi lạnh, tích tụ, trưng hà, đau bụng, có khối u lâu ngày trong ngực bụng: Đan sâm, Miết giáp, Mẫu lệ, Mẫu đơn bì, Thanh hao, Diên hồ sách, Ngưu tất, Can tất, lượng bằng nhau, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị bứt rứt, khát nước: Đan sâm, Mạch môn, Sa sâm, Ngũ vị tử, Cam thảo, Thanh hao, Qua lâu, lượng bằng nhau, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Ích khí, dưỡng huyết: Đan sâm, Nhân sâm, Mạch môn, Toan táo nhân, Địa hoàng, lượng bằng nhau. Sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị cứng đau thắt lưng, cột sống, trừ phong thấp ở chân, trừ phong tà còn lưu nhiệt: Đan sâm, Ngưu tất, Tỳ giải, Mộc qua, Hy thiêm thảo, Đỗ trọng, Tục đoạn, lượng bằng nhau, sắc uống hoặc tán bột uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị kinh nguyệt không đều, động thai, sinh xong sản dịch ra không bết, đau khớp xương: Đan sâm rửa sạch, sấy, tán bột, ngày uống 6g với nước nóng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị ghẻ lở do phong nhiệt: Đan sâm 15g, Khổ sâm 12g, Xà sàng tử 12g, Sắc lấy nước rửa (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị kinh nguyệt không đều hoặc sau khi sinh sản dịch không xuống: Đan sâm 18g – 30g, tán bột, mỗi lần dùng 6g, chia làm 2 lần, uống với rượu nóng, hoặc thêm 15g đường đen uống (Đan sâm tán - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Học).
  • Tri kinh nguyệt không đều hoặc sinh xong sản dịch không ra: Đan sâm 12g, Trạch lan 9g, Hương phụ 6g. Sắc uống. Hoặc dùng Đan sâm 12g, Đương quy 12g, Tiểu hồi hương 6g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Học).
  • Trị bế kinh: Đan sâm 30g, Thiến thảo 15g, Ô tặc cốt 60g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Học). Trị vùng vị quản đau do khí trệ huyết ứ: Đan sâm 30g, Đàn hương, Sa nhân đều 6g. Sắc uống (Đan sâm ẩm - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Học).

CHỦ TRỊ TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Khứ ứ, sinh tân, hoạt huyết, điều kinh, bài nùng, sinh cơ. Trị kinh nguyệt không đều, huyết trệ, rong kinh, sản dịch xuống không dứt, kinh bế, trưng hà, đau nhức lưng đùi do ứ trệ, nhiệt nhập phần dinh gây nên bứt rứt, khó ngủ, đinh nhọt sưng tấy (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Khứ ứ, sinh huyết mới, hoạt huyết, điều kinh. Trị phụ nữ kinh nguyệt không đều, tích tụ, trưng hà, huyết ứ, phong tý, ung nhọt, đơn độc (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Hoạt huyết, khứ ứ, bài nùng, tiêu thũng, dưỡng huyết, an thần. Trị kinh nguyệt không đều, đau do ứ trệ, đơn độc (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

LIỀU DÙNG:

6–15g, Có thể đến 30g.

KIÊNG KỴ:

  • Phản Lê lô (Bản Thảo Kinh Sơ).
  • Phụ nữ có thai dùng thận trọng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Không có ứ huyết ngưng kết: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu). Có thai: dùng thận trọng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

THAM KHẢO

  • Đan sâm, tuy có tên là sâm nhưng sức bổ huyết thì thiếu mà công khứ ứ lại có thừa, hoàn toàn trái với Đương quy. Sức bổ huyết của Đương quy mạnh hơn là khứ ứ, còn sức khứ ứ của Đan sâm lại mạnh hơn là bổ huyết. Vả lại Đương quy vị ngọt, tính ôn, trong bổ huyết có khứ ứ, nên dùng cho phần huyết thiên về hàn. Đan sâm vị đắng, tính hàn, trong khứ ứ có bổ huyết, nên dùng cho phần huyết thiên về nhiệt (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Lấy hoạt huyết, khứ ứ làm chủ, có thể thanh nhiệt trong huyết, cho nên rất thích hợp với huyết nhiệt ứ trệ. Đương quy sức bổ huyết mạnh hơn khứ ứ, Đan sâm sức khứ ứ mạnh hơn bổ huyết (Thực Dụng Trung Y Học).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search