Câu Đằng

Bạn đánh giá: 2 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Xuất xứ: Biệt Lục, Vị này có gai như lưỡi móc câu nên có tên như vậy

TÊN KHÁC

Điếu đằng câu (Hoà Hán Dược Khảo), Lưỡng câu, Câu đằng câu (Trung Quốc dược học đại từ điển), Vuốt câu, Câu đằng, Dây móc câu, Gai mấu (Dược liệu Việt Nam).

MÔ TẢ

Cây câu đằng còn gọi là Câu đằng Nhật bản đó là cây leo màu nâu đậm, cành non có 4 cánh, lá mọc đối hình trái xoan nhọn đầu, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới có phấn, gân nổi rõ cả 2 mặt, lá kèm chia đôi, gai cong, khoẻ nhọn đầu. Hoa tập trung thành hình đầu, dầy đặc ở đầu cành. Hoa nhỏ màu vàng hay trắng. Đài 5 ống đài hình cầu. Tràng 5 ống tràng ngắn. Nhị 5 đính trên ống tràng. Bầu 2 ô. Vòi mảnh. Quả nang, có đài còn lại ở đỉnh, nhiều hạt. Hoa nở vào mùa hè.

Câu đằng dùng gai móc mấu như loại lưỡi câu đơn, có loại lưỡi câu kép mọc đối trên trục màu đỏ nâu bằng phẳng trơn. Chất cứng, dùng mấu non có tác dụng hơn thứ già. Loại khô không mốc mọt, mục bở, mỗi khúc có hai gai ở 2 bên là thứ tốt, thứ chỉ có 1 gai kém giá trị, thứ không còn gai thì không dùng.

TÍNH VỊ QUY KINH

TÍNH VỊ:

  • Vị ngọt, tính lạnh (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Vị ngọt, tính hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Vị ngọt, tính hàn (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

QUY KINH

  • Vào kinh Can, Tâm bào (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Vào kinh Can, Tâm bào (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Vào kinh Can, Tâm bào (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

ĐỊA LÝ

Mọc hoang phổ biến ở miền thượng du, ven đường đi, ven rừng thứ sinh, bò dài trên các cây bụi khác.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC

Đoạn cành có gai móc câu khô, màu nâu hồng hay nâu sẫm, không lẫn đoạn có gai. Khi dùng dùng móc câu.

THU HÁI, SƠ CHẾ

Thu hái vào tháng 3, cắt dây về chọn các mấu có móc câu chặt thành từng đoạn dài khoảng 2cm, phía trên chặt sát móc câu phơi nắng hoặc sấy thật khô, thường dùng sống không cần sao chế.

BÀO CHẾ

Khi dùng cắt bỏ cành của nó đi, chỉ dùng toàn những móc câu thôi, dùng được móc non càng tốt, không cần lấy thứ già, loại non sức mạnh hơn loại già. BẢO QUẢN: Để nơi khô ráo, thoáng gió.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị động kinh thình lình, dùng Câu đằng, Chích cam thảo đều 6g, sắc 5 chén nước còn 2 chén, uống với một chút Táo, ngày uống 5 lần, đêm 3 lần (Thánh Huệ Phương).
  • Trẻ em động kinh do sốt cao: Câu đằng 130g, Tiêu thạch 15g, Chích cam thảo 7, 5g, tán bột, mỗi lần uống 1,5g với nước nóng, ngày 3 lần (Thánh Tế Tổng Lục).
  • Trị sởi mọc chậm: Câu đằng, Tử thảo nhung 2 vị bằng nhau, tán bột lần uống 1 muỗng cà phê với rượu nóng (Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết).
  • Trẻ con động kinh co giật, dùng Câu đằng, Viễn chí, Phục thần, Hổ phách, Táo nhân, Đơn sa, Ngưu hoàng, Thiên trúc hoàng, Tê giác, Sinh địa, Long xỉ, Mạch môn, Kim bạc, có đàm gia Trúc lịch, Nam tinh, Quất hồng bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị Can nhiệt sinh phong, động kinh co giật: Câu đằng 12g, Tê giác 3g, Thiên ma 9g, Toàn yết 4,5g, Mộc hương 2,4g, Cam thảo 3g, sắc uống (Câu đằng ẩm - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị Tetanos kèm có nội nhiệt: Câu đằng 15–24g, Hoàng cầm 9g, Tang diệp 15g, Đởm nam tinh 6g, Thạch cao 60–240g, Thuyền thoái 30–60g, Toàn yết, Bạch phụ tử mỗi thứ 9–15g, Ngô công 5 con, sắc uống mỗi ngày 1 thang (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị nhức đầu, váng đầu do huyết áp cao: Câu đằng 12g, Kim ngân hoa 9g, Bạc hà 4,5g, Hồng hoa 9g, Địa long 9g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách). Trị nhức đầu, chóng mặt, mặt đỏ, mạch Huyền Sác do huyết áp cao gây nên: Câu đằng, Cúc hoa, đều 9g, Hạ khô thảo 15g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ

  • Thanh can, tức phong, tiềm dương. Trị trẻ nhỏ động kinh, váng đầu, chóng mặt do phong hoả, nhức đầu, phát sốt, co giật. (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Thanh nhiệt, bình Can, tức phong, trấn kinh (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Thanh Can, tức phong, tiềm dương (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

LIỀU DÙNG

Dùng 10 – 20g, không nên sắc lâu

KIÊNG KỴ

Không có phong nhiệt và thực nhiệt cấm dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

CÁCH DÙNG

Dùng vào thuốc thang thì nên để riêng, sau khi sắc thuốc gần được mới cho Câu đằng vào. Hoặc tán bột dùng trong cao đơn hoàn tán. Nhức đầu chóng mặt dùng gai mấu, đau thần kinh toạ dùng rễ cây.

THAM KHẢO

  • Câu đằng có tác dụng khư phong mà không táo, là một vị thuốc trung hoà, là thuốc của thủ thiếu âm, Túc quyết âm kinh, Thiếu âm chủ hoả, Quyết âm chủ phong, phong hoả va chạm vào nhau thì sinh ra chứng nóng lạnh động kinh, làm cho không yên hoả tắt thì âm can đều yên ổn, chứng nóng lạnh cũng tự khỏi vậy. Cho nên trong nhi khoa rất quan trọng nó. Khi dùng cần đi kèm với huyết dược, thì công hiệu càng hay. Khi dùng bỏ cành chỉ dùng thuần một thứ móc câu còn non thì công hiệu gấp 10 nhưng sắc lâu thì mất tác dụng, chờ sắc các vị khác sắp tới rồi mới cho vào sau, sôi một hai dạo sau thì đem xuống dùng thế mới đắc lực (Dược Phẩm Vậng Yếu).
  • Câu đằng, Bạch cương tàm tính rất bình mà sức thuốc lại nhẹ, dùng cho chứng phong giật co nhẹ Toàn yết tính bình, sức thuốc cũng mỏng manh, dùng cho chứng co giật tương đối nặng. Ngô công tính mạnh, sức thuốc mạnh, dùng cho chứng co giật nặng, nếu rất nặng thì đồng thời dùng cả Toàn yết và Ngô công. Có trường hợp nên dùng hay không nên dùng, kinh phong biểu hiện bằng nhếch mép chép miệng là nặng nhất, trường hợp này nên dùng Ngô công, còn co giật thường nên dùng Toàn yết cũng có thể được. Ngô công tính mãnh liệt, dữ dội, có thể làm cho huyết dịch hoá táo (ráo nóng), cho nên bất đắc dĩ mới dùng, trúng bệnh thì thôi, không được dùng liên tục (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Vị cam, hàn, hơi đắng, là thuốc của kinh thủ túc Quyết âm. Túc Quyết âm chủ phong, thủ Quyết âm chủ hoả, kinh phong co quắp, đầu váng, hoa mắt đều do phong hoả bốc lên. Vì khí và vị của Câu đằng bạc, hợp với thể chất của trẻ nhỏ, vì vậy dùng trị động kinh, co giật… Khi sốt cao, tay chân máy giật, có thể dùng Câu đằng để đề phòng. Nếu đã phát kinh phong thì Câu đằng không bằng Toàn yết, Ngô công (Thực Dụng Trung Y Học).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search