TÊN KHÁC
Trắc bá tử nhân, Cúc hoa (Hòa Hán Dược Khảo), Bách thử nhân, Bách thật (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Bách tử nhân, Bá thực (Đông Dược Học Thiết Yếu), Hạt cây Trắc bá, hột Trắc bá Dược liệu Việt Nam).
MÔ TẢ
Cây cao 3–5m. Thân phân nhánh nhiều trong những mặt thẳng đứng làm cho cây có dạng đặc biệt. Lá mọc đối, dẹp, hình vẩy, màu xanh sẫm. Quả hình nón cấu tạo bởi 6–8 vẩy dày úp vào nhau, kẽ vẩy có hạt. Hạt hình trứng không có cánh, màu nâu sẫm, có một sẹo rộng màu nhạt hơn ở phía dưới. Mùa hoa vào tháng 4–5. Trồng làm cảnh ở công viên, chùa đình. Mùa quả vào tháng 9–10
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị ngọt, cay, tính bình (Trung Dược Học).
- Vị ngọt, tính bình (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
QUY KINH:
- Vào kinh Tâm, Can, Tỳ (Trung Dược Học).
- Vào kinh Tâm, Can, Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Hái vào mùa đông, phơi khô, xát bỏ vỏ ngoài, lấy nhân phơi khô. Thứ nào vàng nhạt, lớn hơn hạt mè, vị đắng, thơm là tốt.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Dùng hạt.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị động kinh, trẻ con hay khóc đêm, bụng đầy, tiêu phân xanh: Bá tử nhân, tán bột, dùng 3–20g trộn với nước cơm để uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị tâm huyết bất túc, tinh thần hốt hoảng, mất ngủ, mộng mị, hồi hộp sợ sệt, giảm trí nhớ: Bá tử nhân 20g, Mạch môn, Câu kỷ, Đương quy mỗi thứ 12g, Xương bồ 4g, Phục thần, Huyền sâm mỗi thứ 12g, Thục địa 20g, Cam thảo 4g sắc uống (Bá tử dưỡng tâm thang –- Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị huyết không dưỡng tâm, hồi hộp mất ngủ: Bá tử nhân, Toan táo nhân mỗi thứ 16g, Viễn chí mỗi thứ 8g, sắc uống (Dưỡng tâm thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị mất ngủ, tóc rụng do thần kinh suy nhược: Bá tử nhân, Đương quy mỗi thứ 640g, tán bột, luyện mật làm viên, mỗi lần uống 12g, ngày 2 lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ sách).
- Trị mồ hôi ra nhiều do âm hư: Bách tử nhân 16g, Hạ khúc, Mẫu lệ, Đảng sâm, Ma hoàng căn, Bạch truật mỗi thứ 12g, Ngũ vị tử 8g, Mạch nhu (Trấu, vỏ hạt lúa tiểu mạch) 16g. Tán bột, trộn với Táo nhục làm viên, hoặc sắc uống (Bá tử nhân hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG:
- Dưỡng tâm, an thần, nhuận trường (Trung Dược Học).
- Dưỡng tâm an thần, cầm mồ hôi. Đồng thời có tác dụng nhuận táo, thông tiện (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
CHỦ TRỊ:
Trị mất ngủ, hồi hộp, táo bón, mồ hôi trộm (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
KIÊNG KỴ:
- Tiêu chảy: không dùng (Trung Dược Học).
- Tiêu chảy, đàm nhiều: cấm dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Bách tử nhân sợ Cúc hoa, Dương đề thảo (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
CÁCH DÙNG:
Hạt tẩm rượu phơi khô, giã ra, sẩy sạch, lấy nhân sao qua mà dùng.
THAM KHẢO
- Bá tử nhân và Toan táo nhân đều là thuốc trị bệnh mất ngủ cả, thường dùng kết hợp cả hai. Toan táo nhân đặc hiệu về dưỡng âm, Bá tử nhân đặc hiệu về dưỡng Tâm, lại có tác dụng thông hoạt ruột (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Bá tử nhân là một vị thuốc bổ có chất nhuận làm cho mọi sự khô táo. Sách Bản thảo ghi rằng: Nó trị được phong thấp, nhưng trị phong thì đúng mà trị thấp thì khó hơn. Những chất nhu nhuận trường làm yên được phong khí, trị phong là trị cam táo sinh ra phong, không phải trị phong cảm ngoại ở ngoài (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Toan táo nhân và Táo tử nhân đều có tác dụng an thần, trị mất ngủ, cả hai đều được dùng chung nhưng Táo nhân thiên về bổ Can liễm hãn, Bách tử nhân thiên về dưỡng Tâm, lại có thể thông ruột (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Mất ngủ thuộc về Can, Đởm hư thì dùng Toan táo nhân; Mất ngủ thuộc về Tâm huyết hư thì dùng Bá tử nhân. Toan táo nhân lấy vị chua để trị bệnh, vì vị chua hay liễm Can mà bổ Can. Bá tử nhân có nhiều chất nhờn, tư bổ, dưỡng được Tâm mà bổ Tâm (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Táo bón chia làm 2 loại: thực và hư. Thực chứng nên dùng phép tả, dùng Đại hoàng, Huyền minh phấn; Hư chứng nên dùng phép nhuận. Bá tử nhân là vị thuốc có thể dùng được, nhất là đối với người lớn tuổi bị táo bón, chất nhờn trong ruột thiếu mà dùng vị này, rất thích hợp (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Bá tử nhân là quả của cây Trắc bá, nhân mầu vàng, trông giống như hạt gạo, tính bình, không hàn, không táo, thực là 1 vị thuốc tư bổ dưỡng Tâm (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Bá tử nhân vị ngọt, tính bình. Vào Tâm thì có tác dụng dưỡng thần, vào Thận có tác dụng định chí. Bá tử nhân có tác dụng giống như Toan táo nhân nhưng Bá tử nhân thuộc loại phương hương, hòa trung, hạt có chất béo mà nhuận, thiên về dưỡng Tâm và hoạt trường. Toan táo nhân thiên về bổ Can, ngoài việc trị mất ngủ, còn có tác dụng liễm hãn (Thực Dụng Trung Y Học).


